View previous topic View next topic Go down  Message [Page 1 of 1]

Hue Bat

avatar
Moderator
Moderator

SỰ TRUYỀN THỪA MẬT GIÁO


Mật Giáo được thuyết minh do Đức Thích Tôn Như Lai hay Đại Nhật Như Lai, chuyển danh là Đại Tỳ-lô-giá-na Phật (Phạn ngữ: MAHAVAROCANA) Pháp thân của Ngài Phổ Hiền Bồ-tát (SAMANTABHADRA), thị giả của Đức Thích-ca Mâu-ni, thì trở thành Kim Cang Thủ Bồ-tát hay Kim Cang Tát-đỏa (VAJRAPANI), thị giả của Đức Đại Nhật. Pháp thân Phật, Đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai, ở tại cõi trời MA HÊ THỦ LA THIÊN, tức Kim Cang Pháp giới cung, qua ứng thân của Ngài là Đức Phật Thích-ca ở tại cõi Ta-bà này, sau khi thành đạo vào ngày thứ bảy, đang lúc thọ hưởng pháp lạc, đã vì Ngài Kim Cang Tát-đỏa và các vị Đại Bồ-tát ở mười phương thế giới khác đến tập hội mà xiển dương giáo pháp bí mật. Đó là thời gian khởi nguyên của Tông Chơn Ngôn vậy.
Đức Phật Thích-ca đang thiền định

Ngài Kim Cang Bồ-tát đích thân chịu làm lễ “Quán Đảnh”, kế thừa pháp mầu nhiệm của Đức Đại Nhật Như Lai, lãnh thọ lời Phật dạy, đem giáo pháp ra hoằng hóa và kiết tập thành 2 bộ kinh: Kinh Đại Nhật và kinh Kim Cang Đảnh lập thành Thai Tạng Giới Mandala và Kim Cang Giới Mandala. Tại sao 2 Mandala này được gọi là Thai Tạng và Kim Cang?

–“Đại Nhật Kinh Sớ” giải thích: “Ước về Thai Tạng do nhân duyên cha mẹ giao hợp, thần thức mới gá vào trong thai, rồi do gió nghiệp tượng thành lần lần lớn lên. Đến khi đứa bé được sinh ra thì gân xương, chi tiết đã hoàn thành, các căn đều đầy đủ. Từ đó đứa bé lấy theo tộc tánh cha mẹ. Cũng thế, hành giả y theo “Chơn Ngôn Môn” học tập Đại bi muôn hạnh, tịnh tâm lần lần hiển hiện. Do tâm Đại bi, những việc làm đều vì kiến lập chúng sanh, khiến cho thành tựu sự vui trong pháp giới vô tận. Rồi từ đó, công quả viên mãn, lên ngôi Vô thượng Bồ-đề, được vào giòng giống của Như Lai. Cho nên Đại bi Thai tạng là ước theo dụ mà đặt tên. Đó là y theo Thánh thai bi trí của chư Phật vào nơi đạo tràng tam mật tương ứng, nương phương tiện khéo để thành tựu chủng tử Bản giác của mình và tất cả chúng sanh vậy.

–Còn “Kim Cang Đảnh Sớ” có nói: “Kim Cang bao gồm 2 ý nghĩa “bền chắc” và năng dụng “cứng bén”. Bền chắc nên không thể phá hoại, cứng bén nên có thể phá hoại các vật khác.

Nói “bền chắc” là ví cho chân lý Bí mật chẳng thể nghĩ bàn của thật tướng, luôn luôn vẫn thường còn, không thể phá hoại. “Năng dụng cứng bén” là dụ cho trí dụng của Như Lai có công năng dẹp phá hết hoặc chướng, làm hiện rõ chân lý thật tướng. Lại theo thế gian, Kim Cang có ý nghĩa không thể phá hoại, chất báu trong các thứ báu và là vật thù thắng trong các chiến-cụ. Đây là tiêu biểu cho Pháp Thân. Nói không thể phá hoại là tiêu biểu cho Pháp Thân của tất cả Như Lai: không sanh, không diệt, không trước, không sau, bền bỉ thường còn không hư hoại. Nói chất báu trong các thứ báu là tiêu biểu cho thật tướng “Trung Đạo” đầy đủ hằng sa Công đức. Nói vật thù thắng trong các chiến-cụ là tiêu biểu cho lý “Đệ Nhất Nghĩa Không”, tất cả phiền não không thể đối địch. Đạo lý ấy như thế, không phải Trời, Người, hay chư Phật tạo tác ra được, nên gọi là Kim Cang.

Thai Tạng Giới (Garbhadhatu) Mandala

Kim Cang Giới (Vajrdhatu) Mandala

Ngài Kim-Cang Bồ-tát đã viết 2 quyển kinh Đại Nhật và Kim Cang Đảnh, mỗi bộ có khoảng mười vạn bài tụng. Ngài lưu pháp lại trong một cái tháp sắt được gọi là “Nam Thiên Thiết Tháp”.

Về sau, Ngài Long Thọ Bồ-tát khai tháp sắt Nam Thiên này, nhờ thần lực gia trì, chính Ngài thấy Ngài Kim Cang Tát-đỏa mật truyền cho Đại Pháp và chú phúc lại 2 bộ kinh Đại Nhật và Kim Cang.
Ngài Long Thọ Bồ-tát (NAGARJONA 150-250 D.L) là người mạn Nam Ấn Độ, cực thông minh đỉnh ngộ. Ông là bậc thầy tổ của 8 tông phái Đại thừa Phật giáo, ngoài ra còn quán triệt đạo lý của mỗi tôn giáo khác trên đất Ấn lúc bấy giờ. Lập trường thuyết giáo của Ngài vững chắc cho đến nỗi không có một học phái Đại thừa nào sau Ngài vượt qua nổi khi giải thích về những giáo lý căn bản của Phật dạy. Mật tông Phật giáo cũng như các tông phái Đại thừa khác đều đặt cơ sở trên lập trường không lý của Ngài (Trung Quán). Ngài được so sánh như là Phật Tổ tái thế.
Ngài Long Thọ về sau truyền pháp này cho Ngài Long Trí, là một cao tăng tại viện Đại học Nalanda.

Đại học đường Nalanda là trường Phật giáo lớn nhất ở Ấn Độ. Nơi đây rèn đúc các vị cao tăng Mật Giáo và các tông phái Đại thừa khác. Chư vị Tổ Sư nối nhau mà truyền đạo phần nhiều đều dạy học tại trường ấy. Các Ngài Vô Trước, Thế Thân đều từng là giáo sư tại viện đại học đầu tiên này của Phật giáo. Giới Hiền Luận Sư cũng đã nối tiếp làm Thượng tọa tại đây. Lúc ông đã trên trăm tuổi, Huyền Trang ở Trung Quốc sang vào năm 633 và đã thụ pháp với ông. Các cao tăng hoằng truyền Mật Pháp ở các nước khác sau này đều xuất thân từ đây.

Long Thọ (Nagarjuna), vị Tổ thứ I

Bức tường cũ của tu viên Nalanda

Long Trí A-xà-lê (Nagabodhi), vị Tổ thứ II

Ngài Long Trí sau khi thọ pháp với ngài Long Thọ, đã truyền pháp và giáo hóa các nước miền Nam Thiên Trúc và Tích Lan. Ngài Long Trí đã thọ hơn 700 tuổi.

Mật Giáo sau đó đã sớm được phổ biến về hướng Bắc để sang Tây Tạng, Trung Hoa và Nhật Bản và về hướng Nam để qua mấy xứ Tích Lan, Miến Điện, Nam Dương, Cao Miên, Lào… để trở thành 2 ngành Mật Giáo chính: Mật tông Nam Tông và Mật tông Bắc Tông.


I. LƯỢC SỬ MẬT-TÔNG TÂY-TẠNG

A. PHÁI CỔ MẬT

B. PHÁI HOÀNG MẠO (MADHYAMIKA)

C. PHÁI NHỮNG NGƯỜI ÁO VẢI (KARGYUTPA)

II. LƯỢC SỬ MẬT-TÔNG TRUNG-HOA

A. THIỆN VÔ ÚY (SUBHAKARASIMHA 637-765)

B. KIM CANG TRÍ (VAJRABODHI 663-723)

C. BẤT KHÔNG (AMOGHAVAJRA 705-774)

D. NHẤT HẠNH (ICHIGYO 683-727)

III. LƯỢC SỬ MẬT TÔNG NHẬT BẢN:

A. THAI MẬT

B. ĐÔNG MẬT


IV. MẬT TÔNG TẠI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

Mấy xứ Tích Lan, Xiêm, Cao Miên, Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan đều thuộc về Phật giáo tiểu thừa hay là Nam Tông Phật giáo.

Kinh Phật chép rằng về đời vua A-dục, đạo Phật ở Ấn đã truyền qua Tích Lan rồi. Hoàng tử con vua A-dục là Mahendra đã sang truyền đạo Phật ở Tích Lan. Ngài đem theo 3 tạng kinh, rồi các danh sư đến và dịch tiếng bản xứ. Đạo Phật được truyền đến các nước Đông Nam Á cũng chính vào đời vua A-dục. Ở các nơi này người ta tu học cũng chính đáng và nghiêm trang lắm. Mặt khác Mật Giáo được phổ biến tại các nước trên đây cùng một lúc với sự phổ biến Mật Giáo tại Trung Hoa và Tây Tạng.

Sử có ghi ngài Bất Không gặp ngài Kim Cang Trí tại Nam Dương năm 720. Sự kiện này chứng tỏ ngài Kim Cang Trí đã du hóa hoằng bá đạo pháp tại nơi đây vào lúc bấy giờ. Và cũng vào năm này Bất Không đã xin làm đệ tử của ông và ông cùng thầy sang Trung Hoa để tu tập hơn 20 năm tại Lạc Dương. Sau khi thầy mất, ông sang Tích Lan và gặp ngài Long Trí Tam Tạng và dẫn đệ tử cả thảy 37 người đến tham vấn Pháp Sư Phổ Hiền (SAMANTABHADRA) lúc bấy giờ đã có mặt tại Tích Lan nghiên cứu thêm về giáo lý của kinh Kim Cang Đảnh và Đại Nhật Thai Tạng. Ông trở về Tràng An và mang theo một số kinh điển phong phú.

Các sự kiện trên đây đã chứng minh cho sự truyền thừa Mật Giáo do các Pháp Sư Ấn Độ tại các nước Đông Nam Á cũng đồng thời điểm tại các nơi khác. Hơn nữa Mật Giáo được phổ biến tại đây cũng bằng một số lượng kinh điển Mật Giáo không kém gì tại Tây Tạng và Trung Hoa.

Ở Xiêm, Miến Điện, Lào, Campuchia, các sư đều có tu tập Mật Pháp. Đa số các vị đều nỗi danh về những năng lực thần bí và được dân chúng rất kiêng nể. Một số các vị đã đạt được những năng lực kỳ bí thượng thừa mà dân gian thường truyền tụng.

Riêng tại Việt Nam sau Đinh, Lê, Lý, Trần các chùa Việt không có ai đắc truyền về Mật Giáo, nên không có sư đệ tương truyền.

Năm 1928, cụ Khánh Hòa có thỉnh 3 tạng kinh của Tàu, Nhật đem về Việt Nam. Cho mãi đến năm 1970 không có ai dịch phần Mật Giáo trong Đại Tạng đâu; hoặc có dịch cũng rãi rác, không đáng kể. Các chùa đâu đâu vào lúc 4 giờ sáng cũng có trì tụng khóa bản của Mật Giáo như Đại Bi và Thập Chú và hơn nữa trong các thời kinh sáng, trưa, tối… Các sư ở Việt Nam cũng như ở Nhật bản đều có trì tụng Đại Bi để khởi đầu các thời kinh. Chú Đại Bi được rút ra trong kinh “Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Đalani”, một bản kinh chú lớn của Mật Giáo được mỗi tín đồ Phật tử tại Việt Nam biết đến và trì tụng. Dù thế khi được hỏi về tông phái Mật Giáo, các Phật Tử gần như không biết đến. Nhưng lạ hơn thế chính ngay các thầy cũng ít người hiểu rõ nên đôi khi lại có những thành kiến sai lầm về Mật Giáo rất tai hại, mặc dù vẫn trì tụng thần chú mỗi ngày.

Thỉnh thoảng cũng có một số sư, tăng tu tập Mật Pháp nhưng đều có tính cách ai coi nấy thực hành, không được sự tương truyền từ các bậc Quán Đảnh Sư. Thế nhưng vì tâm đạo bền vững, đạo hạnh trong sáng, nguyện lực độ tha tương ứng với tâm nguyện của Chư Phật và Bồ-tát nên cũng đã đạt được các thần lực bí nhiệm của Mật Giáo từ Chư Tôn bên trên gia trì và làm hiển lộ được các sự kỳ bí thần thông để cảm hóa người thế. Các chư vị đã xứng đáng thọ hưởng pháp lạc cho riêng mình nhưng vì thiếu sự tương truyền nên không thể ban phép “Quán Đảnh” cho các đệ tử. Do đấy Mật Giáo tại Việt Nam cũng vẫn giữ mãi tính cách bí truyền mà người thọ nhận vẫn là một ít người được chọn lọc.

Thời gian qua có một số vị tu tập Mật Pháp có vị thế quan trọng ở Việt Nam được nhiều người biết đến; có thể kể ra đây:

–Thượng tọa Thích Viên Đức đã được Hòa thượng Vạn Ân và Từ Thạnh ở Phú Yên trao truyền ấn khế bí mật, Ngài đã tu tập và đạt được các thần lực đáng kể về việc trị các bệnh tim nan y bằng linh phù và nhiều việc kỳ bí khác đã được truyền tụng do Ngài thực hiện… Có thể nói thực sự ông đã có công dịch thuật và hoằng bá các bản kinh Mật Giáo thuộc phần Mật bộ của bộ Đại Tạng Kinh Trung Hoa. Việc học tập Mật Giáo bắt đầu hưng thịnh do việc mạnh dạn phổ biến các bản kinh của Mật Tông bằng tiếng Việt. Ông đã dịch thuật rất nhiều có thể kể sơ lược như:

Kinh Hiển Mật Viên Thông. Kinh Chuẩn-đề Đalani. Kinh Đại Thừa Bảo Trang Nghiêm Vương. Kinh Mạt Pháp Nhất Tự Đalani. Kinh Đại Bảo Quảng Bát Lầu Các Thiên Trụ Bí Mật Đalani. Kinh Bảo Nhiếp Ấn Đalani. Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng và một số bản kinh quan trọng khác nhất là quyển “Đông Mật”, gồm nội dung của hơn khoảng trăm quyển kinh của Mật Giáo.

Thật sự về phần giáo pháp, Thượng tọa đã đóng góp công đức rất nhiều về mặt giáo điển cho người Việt Nam về Mật Tông Phật giáo. Tuy nhiên vì thiếu chơn truyền mạch lạc về phép “Quán Đảnh” nên Mật Giáo chỉ được hưng thịnh về phần Giáo Tướng còn về Sự Tướng thì Thượng tọa cũng không thể truyền bá được, dầu ngài đã đạt được nhiều thần lực đáng kể.

Ngoài ra còn phải kể đến Hòa thượng Thích Phổ Ứng tại Linh Quang Tịnh xá ở đường Nguyễn Khoái, Khánh Hội. Hàng ngày ông đã chữa trị công khai cho những người bị bệnh tà và đã thi triển được nhiều kỳ bí trước mặt các Phật tử. Tuy nhiên, ông không có ý hướng hoằng truyền bí pháp cả về Sự tướng và Giáo tướng. Có lẽ ông coi Mật Giáo là một pháp môn khó tu tập và chỉ dành đặc quyền cho người xuất gia và hơn thế nữa phải là những người được chọn lọc.

Còn phải kể thêm Thượng tọa Thích Thiền Tâm người hoằng truyền pháp môn Tịnh Độ. Ông đã kiêm trì Mật Giáo và đạt được những thần lực đáng kể; và ông cũng đã dịch được một số kinh Mật Giáo và đem ra hoằng hóa gần đây. Tuy thế ông không thể thực hiện các chi phần Quán Đảnh của Mật Giáo vì thiếu sự chơn truyền.

Tóm lại các Thượng tọa và các Đại đức khác ở Việt Nam có tu tập Mật Giáo đều không thể trông cậy nhiều vào việc hoằng truyền Sự Tướng nhất là làm lễ điểm đạo truyền pháp theo phép Quán Đảnh của Mật Tông. Do đó người trì chú khó mong đạt được những ước vọng cao và nào có khác gì những tông phái Hiển Giáo trì Đại Bi, Thập Chú.

**Mật Tông Thiên Đình


Vì sao gọi là Mật tông thiên đình:
Thầy Già (cư sĩ Triệu Phước) đã tập trung Mật tông của thế giới qua ngã Nam Tông (Thái Lan, Lào, Cao Miên, Miến Điện) và Bắc Tông (qua kinh sách từ nơi hòa thượng Thích Viên Đức, bản thân Hoà thượng cũng chỉ được phép bí truyền) và được sắc lệnh của Thiên Đình từ Đức Đại Nhật Như Lai để truyền bá Mật tông thế giới cho đại chúng, chứ không phải do sự truyền thừa từ những hệ phái mật tông của thế gian (Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản v.v.)

Và chính vì Mật tông do Thầy Già truyền bá xuất phát từ Thượng Đế nên bao gồm Mật tông của tất cả các tôn giáo. Bằng chứng là Mật tông Thiên Đình đã điểm đạo cho rất nhiều người thuộc Thiên chúa giáo, Tin lành, Hồi giáo, Ấn giáo, Do thái giáo và các đạo khác và họ đều nhận được ấn chứng mầu nhiệm trong buổi lễ. Sau khi có tâm ấn của Mật tông, mọi người không bị bắt buộc phải trì thần chú mà có thể tu tập theo nghi thức của tôn giáo mình, người Thiên Chúa Giáo đọc kinh Lạy Cha, người theo Phật giáo niệm Phật v.v... vẫn được linh ứng. Chỉ cần tu trì một thời gian ngắn, hành giả đều có năng lực nhiệm mầu từ chư Phật để điểm đạo cho người khác, việc này đã và đang được các đệ tử thực hành rất dễ dàng qua Internet hay qua điện thoại.

Qua 30 năm đã có trên 10,000 người được điểm đạo vào Mật tông mà đại đa số là do đệ tử của Thầy Già, do đó người ta chỉ biết tiếng của Thầy Già chứ không hề gặp mặt.

Những ấn chứng nhiệm mầu xảy ra trong buổi lễ điểm đạo truyền tâm ấn của Mật tông Thiên Đình là những chứng minh cho thấy có một sự phối hợp rõ ràng của đạo sư dưới đất và chư Phật mười phương trên Trời.

Ý nghĩa của điểm đạo truyền tâm ấn của Mật tông Thiên Đình:
Khi hành giả được điểm đạo và có ấn chứng siêu hình là đã được quy y với Trời Phật, có nghĩa là được ghi danh nhập đạo và được học đạo, học kinh Vô Tự là những thần khải về nguyên lý siêu hình với chư Phật và thánh thần của Thiên đình.

Có thể ví Thiên Đình là Bộ Giáo Dục, chư Phật mười phương là các Giáo sư trực thuộc Bộ giáo dục. Hành giả được điểm đạo sẽ có một vị Phật của Thiên Đình chịu trách nhiệm chăm lo cho mình về đời và đạo. Vị Phật đó sẽ tùy theo duyên căn của hành giả mà gởi các Thánh, Thần đi theo để độ hộ và dạy dỗ đến khi đạt thành Phật quả (tốt nghiệp ra trường, hay đắc đạo), giống như học trò trong trường có một vị thầy chủ nhiệm và nhiều giáo sư khác dạy đủ các môn.

Điểm đạo chỉ là buổi lễ nhập môn vào lớp học, từ đó đệ tử phải nỗ lực học đạo thì mới đắc quả chứ không thể ỷ lại có Phật độ cho mình thì không cần học. Ai cũng phải đi học mới có thể tốt nghiệp ra trường.

Lời dẫn của quyển Mật tông Phật Giáo Tinh Hoa quyển Trung xuất bản đầu Xuân 1984

Thời kỳ tại Việt nam, suốt thời gian 3 năm, dành trọn cả ngày đêm cho việc tầm đạo và học đạo về phần Hiển giáo cũng như Mật giáo, soạn giả đã có cơ duyên may mắn được Thượng Toạ Thích Viên Đức trao truyền ấn khế bí mật và toàn bộ y pháp của Mật tông Bắc tông. Tu sĩ Phạm Công Triêu (87 tuổi) trao truyền toàn bộ y pháp của Mật tông Nam tông của Phật giáo Cao miên. Ông Sáu, một tu sĩ của Mật tông Thái lan trao truyền cho toàn bộ y pháp (Hàng trăm lá khăn ấn- lá bùa lớn) của tông phái Thập bát la hán.

Soạn giả còn có cơ hội để trao đổi ý chỉ về Mật giáo với các nhà tu huyền bí thuộc nhiều tông phái khác nhau: Hoà thượng Phổ Ứng ở Linh Quang Tịnh Xá Khánh Hội - Thượng tọa Thích Từ Huệ, trưởng đoàn một giáo phái khất sĩ tại Mỹ Tho – Các cao đồ của đức Tôn sư Minh Trí, giáo chủ của Hội Tịnh độ cư sĩ Việt Nam như: tu sĩ Như Pháp, sư Cậu Hai, tu sĩ Sơn Ngọc Diêu (tông phái này có hàng trăm ngôi chùa ở tại miền Nam – Các cao đồ của Cậu Hai thuộc Bửu Sơn Kỳ Hương, tại chùa Nhà Bàng Thất Sơn Châu Đốc - Đức Tăng Thống của Phật Giáo Cao miên tại Việt Nam và nhiều tu sĩ khác như ông Ba Nước Lạnh, Cô Năm Cửu thiên, Bà Năm Cây đa v.v…

Cũng thời kỳ đó, soạn giả đã gia công nghiên cứu các học thuyết về Mật giáo qua công trình các tài liệu về Mật giáo của Tây tạng, Trung Hoa và Nhật Bản qua Anh, Pháp, Nhật và Hoa Ngữ được dịch ra Việt văn. Các tài liệu tuy nhiều nhưng hình như chưa có một tác phẩm nào đề cập tổng hợp đến Mật tông Thế giới và sắp xếp một cách có hệ thống để tiện bề cho các học giả và hành giả về Mật giáo nghiên cứu và tu trì. Khó khăn hơn nữa là các bộ kinh và sách về Mật giáo đó chỉ đề cập đến giáo thuyết suông và được biên soạn do các nhà học giả hoàn toàn không có thực chứng, nó được luận giải một cách bác học nhưng không thể chỉ cho đọc giả một phương thức thực hành sơ đẳng nào để chứng nghiệm các hiện tượng thần bí học hay siêu hình học, và đây mới là điều quan trọng nhất của bộ môn Bí mật Phật giáo cần nghiên cứu. 

View user profile

View previous topic View next topic Back to top  Message [Page 1 of 1]

Permissions in this forum:
You cannot reply to topics in this forum